CHUYẾN TRẢI NGHIỆM ĐẦY Ý NGHĨA

CHUYẾN TRẢI NGHIỆM ĐẦY Ý NGHĨA
Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có những chuyến đi xa. Và với riêng tôi cũng vậy, tôi cũng từng có rất nhiều chuyến đi, với gia đình, với bạn bè...Nhưng đối với tôi, chuyến đi này là một chuyến đi ấn tượng nhất từ trước đến nay, bởi nó đọng lại trong tôi một kí ức đẹp và không thể nào quên. Một chuyến đi trải nghiệm cùng thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các bạn học sinh khối 7 - Trường THCS Lê Quý Đôn – TP Lào Cai. Hành trình của chúng tôi là thăm đất tổ Hùng Vương, viếng lăng Bác, tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám và đền Ngọc Sơn.
 
 
 CHUYẾN TRẢI NGHIỆM ĐẦY Ý NGHĨA
 
        Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có những chuyến đi xa. Và với riêng tôi cũng vậy, tôi cũng từng có rất nhiều chuyến đi, với gia đình, với bạn bè...Nhưng đối với tôi, chuyến đi này là một chuyến đi ấn tượng nhất từ trước đến nay, bởi nó đọng lại trong tôi một kí ức đẹp và không thể nào quên. Một chuyến đi trải nghiệm cùng thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các bạn học sinh khối 7 - Trường THCS Lê Quý Đôn – TP Lào Cai. Hành trình của chúng tôi là thăm đất tổ Hùng Vương, viếng lăng Bác, tham quan  Văn Miếu Quốc Tử Giám và đền Ngọc Sơn.
        Đúng 6h00 ngày 24/1/2015 cả đoàn khởi hành với 4 chiếc xe 45 chỗ, màu đỏ, xanh rất đẹp. 160 bạn học sinh đã cất vang lời ca trước khi lên đường và cuộc hành trình theo dòng chảy văn hoá của đất nước bắt đầu. Mọi cảnh vật trong buổi sớm mai trôi qua khung cửa kính xe thật đẹp và mang đến nhiều cảm xúc. Nhiều bạn ghé mắt qua cửa kính, nét mặt thoáng chút  mơ mộng như mới chợt phát hiện một điều gì đó thú vị quanh cuộc sống của mình. Trên xe đã bắt đầu râm ran to nhỏ, các bạn kể những câu chuyện cười bổ ích, rồi cả xe tham gia trò chơi đố vui hóc búa…
        Sau khoảng gần ba tiếng lăn bánh, xe chúng tôi đến Đền Hùng thuộc núi Nghĩa Linh, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Các cô chú hướng dẫn viên du lịch giới thiệu với chúng tôi về lịch sử, nguồn gốc của đền Hùng, những câu chuyện truyền thuyết li kì thú vị. Chúng tôi ai nấy đều không giấu nổi cảm xúc dâng trào về quá khứ hào hùng của dân tộc.
      Ấn tượng đầu tiên đối với tôi chính là độ cao chót vót của đền. Chúng tôi nối đuôi nhau leo từng bậc thềm như đoàn quân đang thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của lịch sử - trở về cội nguồn của dân tộc. Từ trên cao nhìn xuống mới thấy được vẻ đẹp của cả một quần thể kiến trúc tuyệt đẹp được thiết kế hài hoà, chiếm trọn quả núi Nghĩa Lĩnh.
Nơi cao nhất là Đền Thượng thờ  18 vị vua Hùng, có bốn chữ Nam Việt Triệu Tổ ở phía trên cửa đền. Cạnh Đền Thượng là lăng vua Hùng thứ sáu. Trong lăng có chiếc quách đá lớn gợi cảm tưởng trong quách vẫn còn hài cốt của vua sau 3000 năm. Trước đền và lăng, các con Rồng cháu Tiên tấp nập thắp hương dâng lễ cúng tổ. Tại đỉnh núi thiêng này, các vua Hùng ngày xưa đã dựng miếu thờ Thánh Gióng và thờ Thần Lúa với biểu tượng một vỏ trấu vĩ đại. Biểu tượng vật thể ấy về sau đã bị đốt cháy trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
     Đền Trung khiêm nhường hơn, ở vị trí thấp hơn, là nơi ngày xưa các vua Hùng hội họp bàn việc nước hoặc ngắm cảnh giang sơn. Đây cũng chính là nơi thái tử Lang Liêu dâng vua cha hai sản vật quý bánh giày  và bánh chưng đã trở thành phong tục tập quán không thể thiếu cho đến nay. Ngoài ra, nơi đây cũng thể hiện cho sự biết ơn đối với tổ tiên, với những thế hệ đi trước.
Ở vị trí lưng chừng núi, trên một mặt bằng khá rộng, toạ lạc Đền Hạ, được xây vào thế kỉ 17. Tương truyền nơi đây chính là tổ ấm của tổ phụ Lạc Long Quân và tổ mẫu Âu Cơ, và cũng là nơi đã dạy cho chúng ta bài học đầu tiên về sự đoàn kết dân tộc.
      Cuối cùng,ở vị trí thấp dưới chân núi là Đền Giếng thờ hai nàng công chúa (con vua Hùng thứ 18) đã đi vào huyền thoại: Nàng công chúa thứ nhất là Tiên Dung, người con gái có cá tính mãnh liệt với tâm hồn lãng mạn và phóng khoáng như của những bậc tiên thánh. Nàng đã dám… tự tiện lấy chồng sau cuộc gặp gỡ kì lạ giữa bãi cát với chàng trai nghèo rớt mồng tơi Chử Đồng Tử, không hỏi ý kiến cha mẹ. Nàng công chúa thứ hai là Ngọc Hoa. Nàng là biểu tượng của thành tố ÂM trong trời đất, là điển hình cho người con gái Việt Nam lá ngọc cành vàng muôn vẻ đáng quý đáng yêu. Chính vì nàng mà xảy ra cuộc chiến tranh trường kì giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Cũng tại đây, các nàng đã dạy cho nhân dân nghề trồng trọt.
Và đặc biệt hơn nữa, ngày 19/9/1954, Bác Hồ kính yêu - vị lãnh tụ của dân tộc đã đến đền Hùng. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nói đầy ý nghĩa đã nhắc nhở chúng ta cần phải cố gắng học tập thật giỏi, tu dưỡng rèn luyện đạo đức thật tốt để báo đáp công ơn của các vua Hùng.
      Kết thúc một chặng đường tham quan, học tập tuy mệt mà vui, chúng tôi lên xe để tiếp tục chuyến hành trình để đến lăng Bác - nơi yên nghỉ của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Để kịp xem Lễ chào cờ buổi sáng, chúng tôi phải dậy sớm hơn thường ngày. Hôm ấy là một buổi sáng mưa bay, hơi se lạnh, đoàn chúng tôi hòa vào dòng người viếng thăm Bác. Trước khi vào Lăng viếng Bác, chúng tôi được xem phim tư liệu về những giây phút cuối đời của Bác Hồ đầy xúc động. Trong khán phòng như nín thở, không ai cầm được nước mắt và… lặng lẽ bật tiếng khóc. Tình cảm, niềm tin trước nhân cách, lẽ sống của Bác đối với dân, với nước và đặc biệt với đồng bào đã làm mọi người thực sự xúc động. Tiếp theo, chúng tôi nhanh chân xếp hàng để làm lễ Báo công dâng lên Bác trong một không khí vô cùng trang trọng. Những dòng người từ khắp mọi phương trời nối tiếp nhau vào lăng viếng Bác. Còn đây, đứng trước lăng của Người, những thế hệ măng non của đất nước đang hướng nhìn, mong đợi, xúc động khôn nguôi. Lần đầu tiên tôi được về viếng  Bác nhưng sao tôi thấy cái gì cũng rất đỗi thân thuộc, với hàng tre xanh, với ao cá, vườn cây, với màu cờ đỏ thắm… Lễ báo công kết thúc, chúng tôi  vào lăng viếng Bác. Tất cả mọi thứ ở đây như ngưng đọng lại, một không khí thật trang nghiêm. Con tim như ngừng đập, những đôi mắt dừng lại, và bước chân cố níu chậm hơn. Thật khó diễn tả hết cảm xúc khi đứng bên và ngắm nhìn Người đang an lành trong giấc ngủ. Khuôn mặt Người vẫn rạng ngời niềm vui như ngày toàn thắng, niềm vui của một tấm lòng yêu cháu con và đất nước tha thiết…đến bây giờ tôi vẫn còn nguyên cảm xúc khi được vào viếng Bác.
      Điểm đến tiếp theo của chúng tôi là Văn Miếu Quốc Tử Giám - nơi đã nảy nở những đóa hoa đầu tiên về trí tuệ. Theo Đại Việt sử ký, vào mùa thu năm Canh Tuất - 1070, Vua Lý Thánh Tông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc tiên thánh tiên hiền, các bậc nho gia có công với nước, trong đó có thờ Khổng Tử - người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Sáu năm sau - năm 1076, Vua Lý Nhân Tông quyết định khởi xây Quốc Tử Giám - một trường Nho học cao cấp nhất hồi bấy giờ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự chọn lựa đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về giáo dục và đào tạo. Hiện trong di tích còn có 82 tấm bia đá, trên đó được khắc tên của 1306 vị đã từng đỗ tiến sĩ trong 82 kỳ thi từ giữa năm 1484 và 1780. Cũng trên các tấm bia này đã ghi lại người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang. Ông đỗ tiến sĩ khi 82 tuổi. Người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê Nam Trực (Nam Định), đậu trạng nguyên năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên ứng Chính bình thứ 16 ( tức năm 1247) dưới triều Trần Thái Tông khi đó mới 13 tuổi. Từ đó Văn Miếu cùng Quốc Tử Giám - được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại đến thế kỷ XIX.
 
         Theo chân chú hướng dẫn viên, chúng tôi đến vườn hoa Lý Thái Tổ. Tượng đài Vua Lý Thái Tổ được đặt tại vườn hoa Lý Thái Tổ, đường Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, trung tâm thủ đô Hà Nội. Tượng đài khắc hoạ hình tượng người có công khởi lập và tạo dựng nên mảnh đất ngàn năm văn hiến – vua Lý Thái Tổ, đầu đội mũ bình thiên, tay phải cầm “Chiếu dời đô”, tay trái chỉ xuống nơi định đô. Đây là bức tượng bằng đồng nguyên chất, đúc liền khối, nặng 34 tấn cao 10,10 m tính theo đơn vị centimet, 1010 cm tương ứng với số năm 1010, năm khai sinh Kinh thành Thăng Long. Nó như gợi ra trong chúng tôi về một mốc son lịch sử huy hoàng, cảm giác thật vui mừng, phấn khởi.
           Hành trình tiếp theo của chúng tôi là Hồ Hoàn Kiếm. Trời hửng nắng như chiều lòng cả đoàn. Nơi đây được coi là hòn ngọc của Thủ đô. Cái tên Hồ Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lý Thái Tổ. Dạo quanh một vòng hồ với những rặng liễu rủ bên bờ, những giọt liễu ngả xuống vòng tay ôm lấy mặt nước hồ biếc xanh màu ngọc lấp lánh nắng vàng. Cảm giác như bao mệt mọi tan biến, hòa mình vào thiên nhiên, hòa vào với làn nước xanh trong, sẽ thấy được những cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng trong một không gian thanh bình êm ả . Xa xa, chính là tháp Rùa- một hình ảnh vô cùng quen thuộc của thủ đô Hà Nội. Tháp  xây dựng cách đây 145 năm tại Hồ Gươm. Nói sao cho thỏa khi chúng tôi được trải nghiệm những cảm giác khoan thai, êm ả, sâu lắng và đầy tự hào kiêu hãnh khi được dạo gót quanh bờ hồ lịch sử và huyền thoại, một bảo tàng nước mà từ lâu vẫn được xưng tụng là “lẵng hoa giữa lòng Hà Nội”. Dạo quanh hồ Gươm với biết bao sự quyến rũ nhưng bước tiếp đến đền Ngọc Sơn thì thấy ngay ở hai cột đồng trụ ngoài cổng nổi bật lên hai chữ “Phúc” “Lộc” và khi nhìn vào trong đền thấy cả một chiều sâu của qui mô kiến trúc đầy dụng ý của người xưa khiến ta choáng ngợp ngẩn ngơ trước vẻ đẹp lộng lẫy và sự linh thiêng của một khu vực góc hồ, của ngôi đền trên đảo Ngọc. Từng nhịp mỗi bước chân, người ta ngây ngất ngắm Đài Nghiên, Tháp Bút hiên ngang đứng giữa trời đất trên nền xanh của cỏ cây non nước và bức xạ bởi màu xanh của nền trời. Bước tiếp vào trong lại thẫn thờ chững lại khi thấy ánh nắng ban mai tràn ngập cây cầu đỏ như dải lụa và đã được mang tên là cầu Thê Húc. Bước qua cây cầu này ta như lạc vào thế giới của tâm linh, của lịch sử như được đọc những trang sử hào hùng của dân tộc - đền Ngọc Sơn. Tại đây có một “cụ” rùa to thật là to, như in hằn dấu tính của thời gian, của huyền thoại thuở nào. Nơi đây, thu hút khách thập phương, đặc biệt là những người khách ngoại quốc. Bằng vốn tiếng Anh “khá” của mình, chúng tôi đã có thể giao tiếp được với những người nước ngoài. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại được trau dồi thêm vốn từ vựng tiếng Anh, có thể tự tin hơn, mở rộng kiến thức…
      Chuyến trải nghiệm của chúng tôi kết thúc. Đoàn ra về với bao niềm tiếc nuối. Rời xa đất tổ, rời xa thủ đô yêu dấu…chúng tôi lên xe để về Lào Ca - vùng đất biên cương của Tổ quốc. Chuyến đi trải nghiệm thật bổ ích. Chúng tôi - mỗi học sinh của trường THCS Lê Qúy Đôn sẽ cố gắng học tập thật giỏi, tu dưỡng rèn luyện đạo đức thật tốt để không phụ long mong mỏi của thầy cô, cha mẹ và để xứng đáng với thành quả mà cha ông ta đã để lại.

Tác giả bài viết: Nguyễn Phương Linh - Lớp 7C

Nguồn tin: Trường THCS Lê Quý Đôn TP Lào Cai