TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRƯỜNG HỌC MỚI

TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN TRƯỜNG HỌC MỚI
Mô hình THM Việt Nam là mô hình trường học được kết hợp hài hòa giữa thành tựu giáo dục của các nước phát triển cùng với thành tựu đổi mới giáo dục của Việt Nam trong một thời gian dài.

 
 
TÀI LIỆU HỎI – ĐÁP VỀ MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
 
            Câu 1: Mô hình trường học mới Việt Nam là gì?
Mô hình THM Việt Nam là mô hình trường học được kết hợp hài hòa giữa thành tựu giáo dục của các nước phát triển cùng với thành tựu đổi mới giáo dục của Việt Nam trong một thời gian dài.
            Mô hình THM được hình thành từ những năm 80 (thế kỷ XX). Xuất phát từ việc các tổ chức Quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB); Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO); Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)... nghiên cứu, chuyển giao các thành tựu giáo dục hiện đại tới các nước khó khăn; về sau được đánh giá, tổng kết thành nhà trường mới, một trong những nước được triển khai thành công là Côlômbia.
            Mô hình THM đã được nhiều tổ chức Quốc tế đánh giá cao (UNESCO, WB...). Năm 2012, Tạp chí Toàn cầu của Thụy Điển đã bình chọn 100 giải pháp có ảnh hưởng nhất từ xưa đến nay, trong mọi lĩnh vực và trên toàn cầu, Mô hình THM xếp thứ 46/100 và xếp thứ ba trong các giải pháp có hiệu quả nhất thuộc lĩnh vực giáo dục.
            Mô hình THM đang triển khai ở Việt Nam tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của mô hình THM đã được triển khai ở các nước kết hợp với với thành tựu đổi mới giáo dục của Việt Nam, trong đó cốt lõi là phát triển năng lực, phẩm chất người học, lấy học sinh làm trung tâm.
            Câu 2: Có phải mô hình THM chỉ thích hợp với vùng nông thôn, vùng xa và khó khăn, nơi có ít học sinh, dễ tổ chức hoạt động học nhóm và chất lượng dạy học chỉ cần đạt mức tối thiểu và việc bồi dưỡng học sinh giỏi cũng bị hạn chế?
            Mô hình THM tập trung đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh để giúp các em biết chủ động trong học tập, tích cực hợp tác, tự tin, tự quản, tự học và tự đánh giá.
            Đối với các trường vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, việc triển khai mô hình THM giúp học sinh nhanh nhẹn, tự tin, giao tiếp tốt hơn.
            Đối với những trường vùng thuận lợi: Học sinh có khả năng tự học cao hơn và do khả năng giao tiếp tự tin hơn nên việc tổ chức các hoạt động nhóm, sử dụng phương tiện dạy học sẽ hiệu quả hơn; ở vùng thuận lợi, có nhiều giáo viên giỏi, việc tổ chức các hoạt động học sẽ tốt hơn.
            Mục tiêu dạy học trong mô hình THM chú trọng hình thành các kĩ năng nhận thức, năng lực hoạt động, năng lực tự học, các kĩ năng giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học, thực hiện dạy học phân hóa theo trình độ, năng lực. Đây là những điều kiện và cơ hội tốt nhất để phát triển năng khiếu, tiềm năng của học sinh. Cách học trong mô hình THM là hướng dẫn học sinh tư duy để chiếm lĩnh kiến thức theo như cách mà người ta tìm ra tri thức nhân loại. Điều này sẽ hiệu quả và tốt hơn với học sinh khá, giỏi.
            Như vậy, mô hình THM thích hợp với trường học ở các vùng miền, thích hợp với dạy đại trà và phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi.
             Câu 3: Trong mô hình THM, học sinh ngồi theo nhóm chỉ nói chuyện riêng, có nguy cơ cong vẹo cột sống, loạn thị?
            Trong mô hình THM, học sinh không nhất thiết phải ngồi theo nhóm, nếu số lượng học sinh đông, diện tích phòng học nhỏ, có thể tổ chức cho học sinh ngồi theo các dãy bàn (như hiện hành), khi tổ chức hoạt động nhóm, học sinh cơ động để tạo thành nhóm (nhóm cùng một bàn hoặc bàn trên bàn dưới thành nhóm).
Trong tổ chức của từng nhóm, có Nhóm trưởng với nhiệm vụ tổ chức, điều hành các hoạt động của nhóm, giáo viên phải chú ý giao nhiệm vụ cụ thể tới học sinh, quan tâm tới những khó khăn và giúp đỡ học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập, đặc biệt là những học sinh yếu, học sinh còn khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập. Do đó, những học sinh không học, nói chuyện riêng sẽ được Nhóm trưởng, giáo viên nhắc nhở, giúp đỡ.
Thời lượng hoạt động chủ yếu là hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi, hoạt động nhóm (trong đó, hoạt động cá nhân chiếm thời lượng lớn nhất), thời lượng dành cho hoạt động toàn lớp là rất ít, do đó học sinh chỉ phải quay lên bảng vào một số thời điểm nhất định trong tiết học. Các nhóm học tập không cố định (thay đổi theo môn), đồng thời chỗ ngồi của từng nhóm, từng học sinh cũng được thay đổi định kỳ (theo từng tuần, tháng). Do đó, không làm cho học sinh bị cong vênh cột sống, loạn thị và qua thực tế triển khai ở Lào Cai trong 5 năm qua (từ năm học 2011-2012) chưa có học sinh nào bị tình trạng này.
            Câu 4: Có phải triển khai mô hình THM chỉ để làm thí điểm?
            Mô hình THM được triển khai ở Lào Cai từ năm học 2011-2012, đến nay đã triển khai sang năm học thứ 6; từng bước được mở rộng ở cả cấp Tiểu học và cấp THCS, không phải chỉ để triển khai “thí điểm”.
Mô hình THM được xây dựng dựa trên chương trình giáo dục hiện hành (chuẩn kiến thức, kĩ năng không thay đổi). Bản chất của mô hình THM là đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học qua việc sử dụng có hệ thống các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã triển khai trong những năm học gần đây.
            Như vậy, nội dung dạy học không thay đổi, phương pháp được hệ thống lại, đã triển khai đến năm học thứ 6 thì không thể nói rằng triển khai mô hình THM chỉ để làm thí điểm.
            Câu 5: Triển khai mô hình THM chỉ chú trọng tới những học sinh khá giỏi, những em làm Nhóm trưởng, Chủ tịch HĐTQ, những học sinh khác ỉ lại và ngày càng yếu?
            Theo mô hình THM, học sinh ngồi học theo nhóm nhưng hoạt động chiếm thời lượng lớn nhất và quan trọng nhất là hoạt động cá nhân: Trước tiên, từng cá nhân học sinh phải tự lực chiếm lĩnh kiến thức, sau đó trao đổi với bạn bên cạnh và trao đổi, tranh luận với nhóm. Như vậy, tất cả học sinh đều phải hoạt động cá nhân (dù là học sinh yếu hay học sinh giỏi), với những học sinh yếu, học sinh khó khăn, giáo viên sẽ giao cho các bạn khá hơn giúp đỡ hoặc giáo viên trực tiếp giúp đỡ để hoàn thành nhiệm vụ học tập; không yêu cầu các nhóm hoàn thành nhiệm vụ học tập sau một khoảng thời gian nhất định nên không có việc một số học sinh khá giỏi lấy kết quả của mình thay cho kết quả toàn nhóm, những học sinh còn lại ngồi chơi, ỉ lại vào học sinh khác. Như vậy, tất cả học sinh đều được quan tâm, giúp đỡ, đặc biệt là những học sinh yếu, học sinh còn khó khăn.
            Các nhóm trưởng, Chủ tịch HĐTQ... được tổ chức bầu luân phiên trong học kỳ, hoặc theo từng tháng để tất cả học sinh được trải nghiệm và rèn luyện các năng lực, phẩm chất (đặc biệt là năng lực điều hành, giao tiếp, tổ chức hoạt động). Do đó, trong một năm học, tất cả học sinh trong lớp đều được tham gia làm Nhóm trưởng, Trưởng ban, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐTQ...
            Câu 6: Học sinh học theo mô hình THM sẽ thi tuyển sinh vào lớp 10, thi học sinh giỏi như thế nào?
Mô hình THM được xây dựng dựa trên chương trình giáo dục hiện hành (chuẩn kiến thức, kĩ năng không thay đổi). Do đó, học sinh học theo mô hình THM được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng như chương trình hiện hành; đảm bảo đầy đủ kiến thức để tham gia các kỳ thi.
Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá được đổi mới đồng bộ theo định phướng phát triển năng lực, phẩm chất người học, hạn chế những câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh ghi nhớ máy móc, tăng cường câu hỏi, bài tập vận dụng, mang tính thực tiễn, thời sự... Do đó, học sinh học theo mô hình THM sẽ có nhiều thuận lợi khi tham gia các kỳ thi theo định hướng phát triển năng lực (thi tuyển sinh vào lớp 10, thi học sinh giỏi).
            Câu 7: Cơ sở vật chất cho các trường triển khai mô hình THM không đảm bảo (phòng học nhỏ hẹp, thiết bị dạy học thiếu)?
            Đối với các lớp có sỹ số đông, diện tích nhỏ không nhất thiết phải bố trí chỗ ngồi theo các bàn quây tròn, có thể sắp xếp theo các dãy bàn như hiện hành.
            Mô hình THM được xây dựng trên chương trình giáo dục hiện hành nên sử dụng các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện có, hàng năm được các cơ sở giáo dục bổ sung.
            Câu 8: Theo mô hình THM, học sinh phải tự học là chính, học sinh của Lào Cai có thể tự học được không? Đặc biệt đối với các môn Khoa học tự nhiên, đối với học sinh yếu?
            Phát triển năng lực tự học cho người học là một mục tiêu quan trọng mô hình THM hướng tới. Năng lực tự học được rèn luyện trong suốt quá trình học tập của học sinh từ Tiểu học đến THPT.
Trong mô hình THM, học sinh không phải tự học hoàn toàn; học sinh được hoạt động cá nhân (tự học) dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của học sinh khác, của giáo viên. Với những phần kiến thức khó, những học sinh còn khó khăn, giáo viên sẽ hướng dẫn, gợi ý, giúp đỡ tận tình, có những nội dung kiến thức, giáo viên sẽ thuyết trình, giảng giải để đảm bảo học sinh đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng.
              Câu 9: Giá sách theo mô hình THM đắt hơn nhiều lần giá sách giáo khoa hiện hành? Tài liệu hướng dẫn học có sử dụng lại được không?
            Tài liệu hướng dẫn học của mô hình THM được thiết kế “3 trong 1” (dùng cho Học sinh, Giáo viên và phụ huynh), thay cho cả sách giáo khoa và sách bài tập hiện hành; tài liệu được in màu, trong tài liệu có rất nhiều kênh hình, bảng biểu.
            Giá của một bộ tài liệu hướng dẫn học chỉ đắt hơn bộ sách giáo khoa một chút (bộ tài liệu hướng dẫn học lớp 6 có giá khoảng 286.000đ, trong khi bộ sách giáo khoa hiện hành bao gồm cả sách bài tập khoảng 220.00đ, sách hiện hành chỉ in đen trắng, ít kênh hình). Tài liệu hướng dẫn học của THM có thể sử dụng trong nhiều năm học.
            Câu 10: Cha mẹ hỗ trợ con học theo mô hình THM như thế nào?
            Mỗi bài học trong mô hình THM có các hoạt động hình thành kiến thức và hoạt động bổ sung; các hoạt động hình thành kiến thức được triển khai chủ yếu trên lớp học; các hoạt động bổ sung không cần tổ chức trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia.
Cha mẹ học sinh có thể hỗ trợ con mình trong việc chuẩn bị bài mới, các hoạt động bổ sung, đặc biệt là những kiến thức, kinh nghiệm trong thực tiễn cuộc sống, tra cứu tài liệu trên mạng Internet hoặc tìm người thân quen có thể hỗ trợ....   
Ví dụ: Cấp THCS có 5 hoạt động (Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, Vận dụng, Tìm tòi mở rộng), trong đó 3 hoạt động đầu được triển khai chủ yếu trên lớp học (hoạt động Luyện tập, học sinh có thể chuẩn bị một phần ở nhà), nếu triển khai tốt 3 hoạt động này là đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học. Hai hoạt động sau là những hoạt động mở rộng, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương. Hai hoạt động này không cần tổ chức trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia.
            Câu 11: Tổ chức dạy học theo mô hình THM có gì khác so với cách dạy học truyền thống?

 
Dạy học truyền thống Dạy học theo THM
- Học sinh làm việc cá nhân.
 
- Học sinh học thụ động.
 
- Học sinh chủ yếu ghi nhớ, luyện tập theo mẫu.
- Giáo viên giảng giải theo sách giáo khoa và sách giáo viên.
 
- Dạy theo số đông, áp đặt một chiều.
- Quan tâm tới kết quả học cuối kì, đánh giá định kì thông qua bài kiểm tra định lượng.
- Mối quan hệ giáo viên – học sinh theo kiểu chỉ huy, áp đặt một chiều từ trên xuống.
- Học sinh làm việc cá nhân, theo cặp, theo nhóm.
- Học sinh tự học, học tích cực có sự hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên.
- Học sinh học qua trải nghiệm, giao tiếp và phản hồi.
- Giáo viên dựa theo tài liệu hướng dẫn học để gợi mở, hỗ trợ học sinh tìm ra kiến thức.
- Dạy học theo cá thể, tương tác đa chiều.
- Quan tâm tới suốt quá trình học và cách học; đánh giá linh hoạt và thường xuyên theo từng bài học.
- Mối quan hệ giữa giáo viên-học sinh và học sinh-học sinh mang tính hỗ trợ, hợp tác.

            Câu 12: Hội đồng tự quản (HĐTQ) của học sinh là gì? HĐTQ có tác dụng như thế nào trong việc hỗ trợ học tập và giáo dục học sinh?
            HĐTQ là tổ chức do học sinh thành lập ở từng lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh để tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi của chính các em; bảo đảm cho các em tham gia một cách dân chủ và tích cực vào đời sống học đường; khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết cho học sinh.
            Các hoạt động của HĐTQ giúp học sinh tham gia một cách dân chủ, tích cực vào quá trình học tập và giáo dục học sinh. HĐTQ không làm thay công việc của giáo viên trong các giờ học mà chỉ tổ chức các hoạt động bổ trợ ngoài giờ lên lớp như: Chia sẻ, tìm hiểu các sản phẩm học tập trong “Hoạt động vận dụng” và “Hoạt động tìm tòi mở rộng” của học sinh trong lớp theo yêu cầu của giáo viên; các hoạt động sinh hoạt tập thể trong và ngoài giờ lên lớp ở lớp và ở trường; hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm quản lí lớp học thông qua việc theo dõi, quản lí, sử dụng các công cụ hỗ trợ đang có trong lớp; truyền đạt với giáo viên ý kiến phản ánh của học sinh trong lớp...
              Câu 13: Trong lớp học của mô hình THM, học sinh sử dụng vở cá nhân như thế nào?
Vở ghi chép cá nhân là quy định bắt buộc, không thể thiếu đối với học sinh trong quá trình học tập. Vở cá nhân sử dụng vốn từ các em đã có để ghi chép bằng lời, hình vẽ hay sơ đồ, bảng biểu. Học sinh ghi chép nội dung hoạt động cá nhân (tự học), nội dung thống nhất trong cặp/nhóm, kết luận của giáo viên, các yêu cầu ghi chú, căn dặn của giáo viên.
Học sinh dùng vở cá nhân để tự ghi và ghi theo hướng dẫn, yêu cầu của giáo viên. Do đó, vở được lưu giữ và được giáo viên xem như một phần biểu hiện của sự tiếp thu kiến thức, thái độ học tập, làm việc của học sinh. Việc ghi chép trong vở còn là minh chứng cho con đường phát triển nhận thức của học sinh, phản ánh suy nghĩ và những sai sót trong quá trình học tập và đánh giá kĩ năng viết tiếng Việt của học sinh.
            Câu 14: Nguyên tắc đánh giá học sinh trong mô hình THM?
            - Hướng tới sự phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh thông qua các mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh dựa trên mục tiêu giáo dục THCS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập.
            - Chú trọng đánh giá thường xuyên, đa dạng hóa các hình thức và công cụ đánh giá: Đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập; kết hợp đánh giá trong quá trình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng.
            - Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác; coi trọng động viên, khuyến khích sự hứng thú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy năng khiếu cá nhân; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.
            Câu 15: Học sinh học mô hình THM có được cho điểm không? Việc khen thưởng học sinh trong mô hình THM được thực hiện như thế nào?
            Đánh giá học sinh trong mô hình THM gồm đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ:
            - Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và hoạt động giáo dục, trong đó có quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng. Trong đánh giá thường xuyên, giáo viên có thể cho điểm hoặc nhận xét hoặc kết hợp cả hai.
            - Đánh giá định kỳ được áp dụng với tất cả các môn học thông qua các bài kiểm tra, bao gồm các bài kiểm tra: Giữa và cuối học kì 1, giữa học kì 2 và cuối năm học. Các bài kiểm tra định kì được lượng hóa bằng điểm số theo thang điểm 10.
            Xét khen thưởng học sinh: Giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn tập thể học sinh bình bầu những  học sinh đạt thành tích nổi bật hay có tiến bộ vượt bậc trong các nội dung đánh giá, đạt thành tích nổi bật trong các phong trào thi đua, các cuộc thi; tham khảo ý kiến của giáo viên bộ môn và cha mẹ học sinh; tổng hợp và lập danh sách đề nghị Hiệu trưởng tặng giấy khen hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.
             Câu 16: Có phải nhiều tỉnh đã dừng triển khai mô hình THM?
Năm học 2016-2017, chỉ có tỉnh Hà Giang dừng triển khai mô hình THM, một số tỉnh chưa triển khai nhân rộng (Hà Tĩnh, Bà Rịa – Vũng Tàu); trong cả nước số trường triển khai mô hình THM là 4.672 (1.385 trường so với năm học 2015-2016, trong đó, Tiểu học tăng 915, THCS tăng 470 trường).
Tỉnh Lào Cai, đang triển khai ở 165 trường Tiểu học (tăng 7 trường so với năm học trước), 106 trường THCS (tăng 11 trường so với năm học trước). Lộ trình triển khai mô hình THM của Lào Cai được thực hiện theo Kế hoạch số 194/KH-UBND ngày 8/7/2016 của UBND tỉnh Lào Cai.
             Câu 17: Những khó khăn khi thực hiện mô hình THM; giải pháp khắc phục và kết quả
            Cũng như các tỉnh trong cả nước, Lào Cai cũng gặp những khó khăn chủ yếu sau: Một số giáo viên ngại khó, ngại khổ, ngại đổi mới; lúng túng trước một số kỹ thuật mới; lớp học đông ở vùng thấp, học sinh DTTS còn hạn chế về tiếng Việt ở vùng cao.
Qua quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, Sở GD&ĐT  Lào Cai nhận thấy: Thực hiện mô hình THM là một khó khăn, thách thức nhưng đồng thời cũng là một cơ hội tốt để bồi dưỡng đội ngũ, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục vùng DTTS, Mô hình phù hợp với Lào Cai, đồng thời phù hợp với yêu cầu đổi mới. Lào Cai đã có nhiều giải pháp tự tháo gỡ  khó khăn: Giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức; tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương; bồi dưỡng đội ngũ; nâng cao chất lượng giáo dục; tăng cường tham mưu, tranh thủ các nguồn lực để cung cấp thêm phương tiện, thiết bị dạy học; linh hoạt, sáng tạo, điều chỉnh một số hoạt động để phù hợp với điều kiện thực tế.
             Kết quả: Hoạt động trong các nhà trường đang dần dần chuyển từ trạng thái  nặng nề, hình thức sang nhẹ nhàng, tự nhiên. Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động giáo dục của nhà trường nhiều hơn. Nội dung dạy học: Thiết thực hơn do được vận dụng kiến thức vào cuộc sống, bổ sung thêm kiến thức liên quan cuộc sống thực tế của học sinh. Phương pháp dạy học đổi mới: Thay vì đọc chép, học sinh được hoạt động nhiều hơn, trao đổi, tranh luận nhiều hơn. Đặc biệt, học sinh nhanh nhẹn, tự tin, tự giác, giao tiếp tốt, khả năng tự học tốt hơn.
Kết quả xếp loại học lực của học sinh các trường triển khai mô hình THM cao hơn so với các trường không triển khai mô hình THM là 0,8 % (Tiểu học).
Cuộc thi cấp quốc gia:
               Năm học 2013-2014: Đạt  51 huy chương, trong đó đạt  7 huy chương vàng. Năm học 2014-2015: Đạt 54 Huy chương, trong đó đạt 6 huy chương vàng (Số học sinh đạt giải nêu trên chiếm 90% là học sinh các trường THM)
               Đội ngũ: Bước đầu biết áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Nhiều CBQL và GV trưởng thành vượt bậc trở thành cốt cán cấp tỉnh, cấp trung ương.
Các trường làm tốt vùng thuận lợi: Hoàng Văn Thụ, Bắc Cường, số 2 Gia Phú 2, Khánh Yên, số 1 Phố Ràng, TT Bát Xát, Lùng Vai, TT Bắc Hà, Ngô Văn Sở, Lê Quý Đôn...
              Các trường vùng cao: Lùng Phình, Na Lốc, Tả Ngải Chồ, Nậm Mòn 2, Nàn Sán, Cốc Mỳ, Mường Hum, Cốc Ly 2, Tả Phìn, Sa Pả, Quang Kim...

 
 
---------------------------------------------------------------------------

TP Lào Cai triển khai VNEN giai đoạn 2016 - 2020



Một lớp học VNEN của Trường tiểu học Hoàng Văn Thụ (TP Lào Cai)
 
            GD&TĐ - Cô Đặng Thị Thùy Dung - Phó Trưởng phòng GD&ĐT TP Lào Cai - cho biết: UBND thành phố tiếp tục triển khai mô hình trường học mới (VNEN) trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016 - 2020.
            Trước đó, mô hình này đã được triển khai thành công tại TP Lào Cai và nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Việc thực hiện theo mô hình đã xây dựng được văn hóa dự giờ, giáo viên tự tin và luôn có mong muốn được làm mới mình mỗi ngày.
            Đặc biệt, giáo viên không còn lo lắng sau giờ dạy sẽ bị bị "mổ xẻ", phân tích xếp loại. Thay vào đó là nhận được những lời góp ý, chia sẻ và cùng với các đôngf nghiệp tìm cách tháo gỡ, khó khăn.
"Mô hình đã tạo ra sự thay đổi theo hệ thống quản lý: Sở -> Phòng –> Trường -> Hiệu trưởng –> giáo viên; Luôn để ngỏ sự sáng tạo. Đặc biệt, vai trò nòng cốt chuyên môn được thực hiện và có nhiều giải pháp quyết liệt từ lãnh đạo Sở, đến các phòng ban, phòng GD&ĐT..." - cô Dung chia sẻ và cho biết: TP Lào Cai khuyến khích các trường tiếp tục và nhân rộng mô hình VNEN. Tuy nhiên việc nhân rộng cũng cần thực hiện từng bước, thận trọng, vững chắc không chạy đua theo kiểu phong trào mà phải có lộ trình và có thời gian.
          Theo kế hoạch, đến năm 2020, thành phố Lào Cai sẽ có100% các trường triển khai thực hiện theo mô hình trường học mới VNEN; trong đó có các trường triển khai toàn phần và có trường vận dụng triển khai từng phần.
Minh Phong
 
 

-------------------------------------------

Giáo dục Việt Nam được gì khi áp dụng VNEN?

Trần Trí Dũng

(GDVN) - Thực tế cho thấy khi điều kiện khó khăn, năng lực giáo viên hạn chế thì dù mô hình có tốt tới đâu thì hiệu quả của nó cũng chỉ tới một giới hạn nhất định.

LTS: Tiếp nối bài viết “Nghiên cứu đáng chú ý của thầy Trần Trí Dũng về mô hình trường học mới VNEN”, trong kì trước tác giả đã tập trung nêu lên nguồn gốc và yêu cầu khi áp dụng mô hình này.

Trong kì này, tác giả tiếp tục trả lời câu hỏi rằng giáo dục Việt Nam được gì khi áp dụng VNEN?. Mô hình này có nên triển khai diện rộng trong hoàn cảnh hiện nay?

Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả!

Nghiên cứu đáng chú ý của thầy Trần Trí Dũng về mô hình trường học mới - VNEN

Mô hình trường học mới lần đầu tiên được áp dụng ở nước Colombia.

Sau những thành công, hiện nay mô hình này đã được nhiều nước đang phát triển khác áp dụng.

Mô hình này cũng đã giành được một số giải thưởng quốc tế và được Ngân hàng thế giới cũng như UNESCO đánh giá là một trong ít mô hình phù hợp nhất với điều kiện giáo dục của các nước đang phát triển.

Ngoài nghiên cứu mô hình của Colombia, mô hình trường học mới tại Việt Nam cũng dựa vào những thành tựu khoa học giáo dục tiên tiến của thế giới, dựa trên quy luật nhận thức và những thành tựu tiên tiến của khoa học giáo dục, được thiết kế thành các bước chung cho các nội dung học tập và hoạt động giáo dục. 

Trong bài viết trước, tôi đã đề cập những quan điểm giáo dục và những yêu cầu đặt ra khi tiếp cận áp dụng mô hình VNEN.

Vì thế, để bạn đọc có cái nhìn khách quan và toàn diện đối với mô hình này, tôi xin cung cấp kết quả về những thành công đã đạt được ở các trường học khi áp dụng mô hình này và những hạn chế chưa đạt được, từ đó có những đánh giá và kiến nghị thích hợp.   

Những thành tựu đạt được khi áp dụng VNEN tại Việt Nam

Khi tổng kết dự án mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN) Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển khẳng định, dự án VNEN tuy triển khai trong một thời gian ngắn nhưng đã đạt được kết quả rất tốt, tạo bước chuyển quan trọng về nhận thức và cách thức thực hiện mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.

Học sinh đang học theo mô hình trường học mới VNEN (Ảnh minh họa trên giaoduc.net.vn).

Theo ông Đặng Tự Ân (Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên gia trưởng dự án VNEN) thì trong mô hình trường học mới, do biết sáng tạo thiết kế tài liệu hướng dẫn học, được gọi là tài liệu 3 trong 1, đã tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy triệt để hơn, rộng rãi hơn trong tất cả các trường Tiểu học.

Hầu hết giáo viên đã hiểu và biết áp dụng phương pháp dạy học mới, biết chuyển từ hoạt động dạy học là chủ yếu sang tổ chức cho học sinh tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức, theo tài liệu hướng dẫn học và  dưới hình thức học cá nhân, học theo cặp và học theo học nhóm.   

Các nhà trường đã tăng cường nhiều biện pháp giáo dục sáng tạo nhằm phát triển các kỹ năng sống và các kỹ năng xã hội cho học sinh.

Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ: Bộ vẫn tiếp tục thực hiện mô hình trường học mới -VNEN

Tất cả các trường lớp trong mô hình trường học mới có bước phát triển mới và hiệu quả mà mọi người dễ nhận thấy là sự trưởng thành, thay đổi nhanh chóng của học sinh. Các em tự tin, mạnh dạn giao tiếp ở trường cũng như ở nhà, nhất là học sinh vùng dân tộc.

Hội đồng tự quản và các công cụ hỗ trợ  học tập trong lớp học thực sự góp phần đáng kể vào sự thay đổi nhà trường.

Qua kiểm tra thực tế, ở các trường đã chú ý và chủ động hơn trong giáo dục toàn diện học sinh, giáo viên không còn quan tâm, năng dạy chữ như mô hình truyền thống.

Giáo viên không giảng bài mà chủ động hướng dẫn hỗ trợ cho học sinh tự học, nên trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, giáo viên có nhiều thời gian và cơ hội quan sát và đánh giá kịp thời quá trình học tập của các em.

Ở đây cần lưu ý rằng, chất lượng học tập theo mô hình mới phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của đội ngũ giáo viên, do đó Hiệu trưởng các trường đã duy trì sịnh hoạt chuyên môn tại trường, cụm trường thường xuyên và có hiệu quả.

Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chính là tổ chức bồi dưỡng chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Bên cạnh đó, các trường cũng phải tạo sự gắn kết với cha mẹ học sinh để hỗ trợ nhà trường, đồng thời mang kiến thức thực tiễn ứng dụng vào những hoạt động cụ thể tại gia đình.

Tuy mô hình mới triển khai được 5 năm học (kể cả năm học đầu tiên 2011 - 2012 thực hiện thí điểm), nhưng đã có những kết quả và tín hiệu về khả năng giải quyết được một phần bức xúc của giáo dục.

Cái chính là mô hình biết đưa ra và kiên trì theo đuổi các biện pháp giáo dục mang tính đặc trưng của mô hình trường học mới.

Học sinh đi học hồ hởi, phấn khởi và thoải mái; học sinh chững chạc, tự tin trong giao tiếp, kỹ năng sống có nhiều tiến bộ; tính tự giác, tính tự quản cao hơn; học sinh hiểu rõ hơn về cộng đồng dân cư nơi mình sinh sống… là những biểu hiện phổ biến, quen thuộc ở các trường có áp dụng mô hình trường học mới.

Còn những mặt hạn chế khi áp dụng VNEN là gì?

Bên cạnh những kết quả đạt được thì việc áp dụng VNEN cũng đã bộc lộ những khó khăn và hạn chế rõ rệt.

Cụ thể, chương trình, Sách giáo khoa khi áp dụng vào mô hình dạy học này chưa phù hợp.

Sách giáo khoa nặng lý thuyết, lượng kiến thức trong một tiết học quá nhiều; thời gian của một tiết học chỉ có 45 phút, mà trong 45 phút đó giáo viên và học sinh phải làm rất nhiều công việc, nếu giáo viên tổ chức thực hiện không tốt, sẽ dẫn đến kết quả ngược lại.

Phụ huynh mất rất nhiều tiền cho sách VNEN

Đa số học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập; thiếu năng động, năng lực giao tiếp hạn chế, chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước tập thể, thiếu kĩ năng tự học, tự nghiên cứu.

Một bộ phận khá đông học sinh còn yếu về ngôn ngữ nói; việc chuẩn bị bài cũ ở nhà còn hạn chế… nên để tiết dạy thành công đòi hỏi giáo viên phải đầu tư rất nhiều thời gian và công sức để có thể huy động tất cả học sinh cùng làm việc.

Điều kiện cơ sở vật chất hiện tại chưa đảm bảo: phòng học thiếu không gian cho việc tổ chức các hoạt động theo nhóm; bàn ghế cũ và không phù hợp với dạy học theo mô hình mới; trang thiết bị cho từng phòng học cũng thiếu.

Và khó khăn lớn nhất là bản thân các giáo viên và học sinh đều phải thay đổi thói quen dạy và học cũ để đến với thói quen dạy học mới, điều này không thể thực hiện một cách chóng vánh mà cần sự kiên trì, bền bỉ.

Thực tế cho thấy khi điều kiện khó khăn, năng lực giáo viên hạn chế thì dù mô hình có tốt tới đâu thì hiệu quả của nó cũng chỉ đạt được tới một giới hạn nhất định.

Chỉ khi có đam mê, biết linh hoạt và sáng tạo thì mỗi nhà trường mỗi giáo viên mới có thể mang lại hạnh phúc và hiệu quả cho việc học của mỗi học sinh.

Ngoài các điều kiện về nhận thức, năng lực của giáo viên thì học cả ngày, yếu tố sĩ số trong mỗi lớp và cơ sở vật chất cũng có quyết định rất lớn tới đổi mới phương pháp và khả năng áp dụng thành công mô hình này.

Cần những điều chỉnh phù hợp để khắc phục hạn chế hiện tại

Qua thời gian thực hiện dự án thí điểm VNEN có thể nói đã có những thành công, nhất là học sinh say mê học, tự tin trong giao tiếp và khi đề xuất những ý kiến, tuy nhiên cũng cần xem xét lại ở những điểm sau:

Thứ nhất, một số phản ánh đã cho biết đối với những học sinh học khá thì mô hình này tỏ ra rất hiệu quả nhưng đối với những học sinh học yếu thì rất hạn chế cho việc nâng cao khả năng.

Khi học theo nhóm thì chỉ một hai học sinh học khá là làm được bài, những học sinh còn lại là chép lại của bạn, vì thế, khi áp dụng mô hình này cần phải có giải pháp thích hợp cho những học sinh học yếu. 

Mô hình trường học mới sẽ làm thay đổi thế hệ trẻ Việt Nam

Thứ hai, chỉ nên áp dụng VNEN từ lớp 3 của bậc Tiểu học trở đi.

Mô hình VNEN nhằm tăng cường khả năng tự học của học sinh nhưng số những học sinh có khả năng tự học là ít so với tổng số các học sinh.

Để có khả năng tự học thì học sinh phải có một vốn kiến thức nhất định, vì thế nếu áp dụng mô hình này thì chỉ nên bắt đầu từ lớp 3 của bậc Tiểu học trở lên.   

Thứ ba, học theo mô hình này chủ yếu là tự học nên Sách giáo khoa hay sách hướng dẫn học tập phải đảm bảo yêu cầu này.

Như thế, sách phải được thiết kế đủ độ để học sinh nắm bắt kiến thức và áp dụng nhưng tránh áp dụng rdập khuôn, máy móc để khỏi biến học sinh thành những máy sao chụp kiến thức mà thực chất là không hiểu và không nắm được bài học.

Với cách học theo mô hình này, sách giáo khoa chiếm vai trò rất quan trọng.              

Thứ tư, nên thiết kế ghế ngồi dưới dạng xoay để tránh học sinh bị vẹo cổ, lác mắt.

Do khi học theo mô hình này học sinh phải ngồi học quay mặt vào nhau, nên chuẩn bị cho mình một tâm thế nhất định trước khi học.

Đặc biệt, khi theo dõi giáo viên giảng bài trên bảng thì học sinh phải ngoẹo cổ, xoay lưng, như thế là dễ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển thể chất của các em. Do đó, cần phải thiết kế ghế ngồi dưới dạng xoay để khắc phục tình trạng này, mặc dù tốn kém cho việc đầu tư cơ sở vật chất.   

Thứ năm, Sách giáo khoa và chất lượng giáo viên phải đáp ứng được yêu cầu áp dụng VNEN; đây là hai nhân tố cốt lõi quyết định chất lượng giáo dục.

Mục đích của VNEN là cung cấp khả năng "tự học"

Trên thực tế, ở một số tỉnh trong cả nước đã quyết định dừng việc học theo mô hình này mà lí do chủ yếu là do việc học của học sinh không hiệu quả.

Thậm chí, các phụ huynh đã làm băng rôn, viết khẩu hiệu yêu cầu dừng áp dụng, khóc trong phòng họp khi nói lên ý kiến; tất cả những vấn đề này cần phải được xem xét lại khi cân nhắc có chính thức áp dụng mô hình này hay không.

Trước những vấn đề trên, quan điểm của Bộ trưởng Giáo dục Phùng Xuân Nhạ là Bộ Giáo dục và đào tạo khuyến khích các cơ sở giáo dục đang triển khai mô hình trường học mới tiếp tục triển khai trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo đạt hiệu quả thiết thực và duy trì trong suốt cấp học vì quyền lợi của học sinh.

Trước đây, giáo dục nặng về dạy chữ thì giờ chuyển sang dạy làm người

Theo đó, "Bộ sẽ tiếp tục thực hiện VNEN, nhưng không áp đặt. Các địa phương có thể áp dụng một phần, còn bỏ tất cả là cực đoan", Bộ trưởng cho biết.

Chúng ta biết, theo khuyến nghị của UNESCO, một trong những "vũ khí" mà con người thế kỷ 21 cần có, đó là khả năng học tập suốt đời.

Để có thể học tập suốt đời, học sinh phải được trang bị những kỹ năng tự học, ở đây, tự học trở thành yếu tố nổi bật nhất của mô hình VNEN.

Trong quá trình tự học, vai trò chủ thể tích cực của học sinh được phát huy cao độ, các em không còn thụ động nghe giáo viên giảng bài nữa, đó là xu thế tất yếu của dạy học.

Để sự tự học của học sinh thành công, cần những điều kiện nhất định như: sĩ số học sinh vừa phải (dưới 25 em chẳng hạn) để thuận lợi cho việc tổ chức nhóm; học sinh được giáo viên và tài liệu học tập (tài liệu này theo mô hình VNEN được gọi là "Sách hướng dẫn học") hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ, chi tiết, phù hợp với trình độ các em.

Hay học sinh phải có những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để tự học bài mới;  có những điều kiện, phương tiện thích hợp để tiến hành hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm;  biết làm việc cá nhân, nhóm để chiếm lĩnh bài học; và học sinh được giáo viên hỗ trợ kịp thời, đúng mức khi gặp khó khăn...

Ngược lại, việc tự học sẽ khó thành công nếu: lớp có sĩ số quá đông, điều đó làm cho việc tổ chức nhóm phù hợp là cực kỳ khó; giáo viên không nắm vững trình độ từng cá nhân học sinh trong lớp nên đưa ra nội dung, "lộ trình", hướng dẫn không phù hợp (ví dụ, nội dung quá sức với trình độ, năng lực hiện có của học sinh); giáo viên không có kỹ năng tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh (ví dụ, tổ chức nhóm quá đông nên dễ xuất hiện học sinh "chầu rìa").

Hay giáo viên không kịp thời phát hiện ra những khó khăn mà học sinh gặp phải để hỗ trợ (có giáo viên chỉ biết ngồi chờ các em tự học mà chưa biết kịp thời hỗ trợ những em gặp khó khăn).

Học sinh bị hổng kiến thức, chưa có kinh nghiệm, thiếu kỹ năng làm việc nhóm (thực tế cho thấy, nay có một tỷ lệ nhất định những em không theo kịp chương trình giáo dục Tiểu học, khả năng giao tiếp chưa tốt, chưa biết làm việc nhóm...); và ngôn ngữ học sinh phát triển chưa đầy đủ (vùng cao chẳng hạn) để làm việc với sách "hướng dẫn học", để tương tác với các bạn và giáo viên cũng là những nguyên nhân việc tự học khó thành công.

Chúng ta nên tự hào hay lo lắng về thực trạng nền giáo dục nước nhà?

Giáo dục Việt Nam đã quá lạc hậu, nhất là mặt tổ chức lớp học và phương pháp dạy học.

Mặc dù lý luận của chúng ta, nói chung cập nhật những lý thuyết tiến bộ nhưng thực tiễn giáo dục lại chưa theo kịp những lý luận đó.

Mô hình VNEN thật sự là một cơ hội để chúng ta biến lý luận thành thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và kết quả giáo dục.

Vì thế, có quan điểm đã cho rằng, mô hình VNEN là một xu thế tất yếu, nhiều nước trên thế giới làm được thì Việt Nam cũng phải làm được.

Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần khảo cứu và đánh giá lại mô hình sau quá trình thực hiện dự án.

Đối với những trường học đã và đang áp dụng VNEN cần đánh giá lại và đúc rút kinh nghiệm.

Bài viết thể hiện nhận thức, góc nhìn, quan điểm và cách hành văn của riêng tác giả.

Trần Trí Dũng

Nguồn tin: Trường THCS Lê Quý Đôn TP Lào Cai