Cảm nghĩ khi thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám
Để giúp các em học sinh nhận thức, yêu quý và trân trọng cội nguồn của dân tộc, công lao to lớn của cha ông, những giá trị văn hóa cao đẹp của đất nước, trường THCS Lê Quý Đôn thành phố Lào Cai đã tổ chức một chuyến trải nghiệm học tập đầy ắp tiếng cười và những tri thức bổ ích cho học sinh khối 7 đến ba địa điểm thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam: Đền Hùng (Phú Thọ), Lăng Bác (Hà Nội) và cuối cùng là Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Sau khi trở về với mảnh đất cội nguồn - Đền Hùng (Phú Thọ) và viếng thăm nơi con người vĩ đại của dân tộc - Cụ Hồ kính yêu yên nghỉ tại Lăng Bác (Hà Nội). Kí ức trong em thật sâu nặng về sự biết ơn đối với các vua Hùng cùng sự xúc động, bồi hồi, nhớ thương đối với người cha già của dân tộc. Lúc này, chúng em lên đường tiến về nơi sinh ra tri thức Việt, nơi các nhân tài lịch sử được sinh ra – Văn Miếu Quốc Tử Giám
Dưới bầu trời dịu mát của buổi chiều cận xuân, cổng Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện lên trong đôi mắt thơ ngây của chúng em thật đẹp, thật trang nghiêm cho dù có bạc màu, sờn cũ theo dòng thời gian lịch sử. Văn Miếu cứ như một cụ già phúc hậu, thông thái, nheo mắt nhìn chúng em nở nụ cười trìu mến, mời gọi chúng em đến thăm ngôi nhà của cụ. Chúng em nhìn nhau và cười, nụ cười trong sáng của tuổi học trò, của niềm háo hức khi trước mắt mình, chính là một cuốn sách lịch sử khổng lồ chỉ chờ chúng em đến tìm tòi và khám phá.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám qua lời giới thiệu của các anh chị hướng dẫn viên: Văn Miếu được khởi công xây dựng “tháng 8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế.” Đến năm 1076 thì Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám, nơi đã từng chỉ dành riêng cho con cháu vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Nơi đây luôn giữ vai trò thờ tự, giáo dục, nho học lớn nhất, nơi đào tạo ra hàng nghìn bậc đại khoa, hiền tài cho đất nước trong suốt thời kì phong kiến độc lập…
Tất cả chúng em đều chăm chú lắng nghe, và cứ như nuốt lấy từng câu, từng lời về lịch sử của ngôi đền thiêng liêng này.
Đặt bước chân đầu tiên vào khu vườn lịch sử hay còn gọi là khu Nhập đạo, em đã như nghe được lảnh lót tiếng thơ trong Văn Miếu, một cảm giác xúc động lạ thường mà từ thời còn ê a tập tập nói em chưa từng cảm thấy. Khu vườn Văn Miếu ngày nay thật đẹp và rực rỡ nhưng hình ảnh vườn tược thời xưa cứ từ từ được vẽ lên trong tâm trí em, thật giản dị, thật đơn sơ mà đẹp lạ lùng, em tự hỏi khu vườn năm ấy liệu có giống như những gì em đã mường tượng. Sự hiếu kì về khu vườn đã càng kích thích thêm sự mong chờ về những điều mà em sắp được biết đến!
Bước qua cánh cổng thứ hai-Đại Trung là chúng em đã rời khỏi Văn Miếu môn để đến với Đại Trung môn. Nơi đây màu của cỏ, cây rợp trời xen lẫn với màu đỏ của cánh cổng hòa quyện vào nhau, tạo ra cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã cho dù sự có mặt của chúng em và các du khách có phần nào làm phá vỡ không khí bình yên vốn có của nơi “văn vật sở đô”. Con đường từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn rồi vươn thẳng tới Khuê Văn Các. Đây là một công trình với kiến trúc độc đáo, được xây dựng năm 1805 (triều Nguyễn), gồm 2 tầng, 8 mái, tầng dưới là bồn trụ gạch, tầng trên là kiến trúc gỗ, bốn mặt có cửa sổ trong với những con tiện tỏa ra bốn phía tượng trưng cho hình ảnh sao Khuê tỏa sáng.
Trước Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời). Mặt nước giếng xanh ngắt, lấp lánh dưới ánh mặt trời dịu dàng hệt như cái tên của nó. Nếu ta để ý kĩ thì sẽ thấy cửa sổ hình tròn của gác Khuê Văn và hình vuông của giếng có quan hệ với nhau. Như bánh trưng và bánh giày, hình tròn tượng trưng cho bầu trời rộng lớn, hình vuông tượng trưng cho đất mẹ thân thương, ý muốn nơi đây hội tụ đủ các tinh hoa tươi đẹp nhất của trời và đất, đề cao trung tâm giáo dục văn hóa nho học Việt Nam. Những thứ nhỏ bé như vậy mà ý nghĩa lại to lớn, thâm thúy đến nhường nào! Đó là những công trình kiến trúc có giá trị hết sức to lớn thế nhưng di tích có ý nghĩa bậc nhất thì không thể nào không kể đến 82 tấm bia Tiến sĩ. Mỗi khu nhà bia có 41 tấm bia đá, tất cả đều hướng mặt về phía giếng. Trên bia khắc tên tuổi, tiểu sử, khóa thi và thời vua bằng chữ Hán. Các tấm bia được đặt trên lưng một con rùa lớn, cổ ngóc lên cao tự tin, bệ vệ – một trong tứ vật linh thiêng nhất thời bấy giờ.
Vây xung quanh anh hướng dẫn viên của đoàn, chúng em đều cố tạo không gian yên lặng nhất để nghe rõ từng lời kể trầm ấm của anh vang trong không gian rộng lớn của sân đền về những câu chuyện của các bia đá. Anh kể cho chúng em nghe về Chu Văn An – một người thầy mẫu mực, người được vua Trần kính trọng thờ tụng tại đây. Được nghe câu chuyện về một đời cương trực, sửa mình trong sạch, giữ tiết tháo, không câu danh lợi, tận tâm, tận lực để dạy dỗ học sinh của mình, đã làm em thực sự xúc động và ngưỡng mộ con người tài hoa ấy. Lấp lánh trong đôi mắt của các bạn là những suy nghĩ mà chính em đây cũng đang giữ trong lòng: “Ông ấy quả là một huyền thoại, một nhân tài vĩ đại của đất nước, liệu mai sau này em có thể theo gương ông để trở thành một thầy/cô giáo tuyệt vời hay không !?” Lòng ý trí quyết tâm học tập hừng hực chảy trong huyết quản của chúng em, thật may mắn biết chừng nào khi được biết Việt Nam ta có một con người vĩ đại đến như vậy, để con cháu đời sau còn được noi gương theo.
Ngoài Chu Văn An – con người yêu nước, thương dẫn, yêu nghề dạy học chân chính, ham học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu mà còn rất nhiều câu chuyện li kỳ khác mà em chưa có dịp để kể hết. Mỗi câu chuyện ấy là một bài học, mỗi câu chuyện là một ý nghĩa nhân văn, mỗi câu chuyện lại mang cho em một kiến thức mới, một cảm xúc mới. Em thầm cảm ơn nhà trường đã cho em được đến nơi đây, đến với môi trường trí tuệ, để được nghe gió dệt thành những vần thơ, lá xào xạc đều đều như đang học thuộc lòng bài văn mới,… Em cũng thầm cảm ơn anh hướng dẫn viên vui tính mà lại có sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử đã cho em những bài học bổ ích…
Giờ đây trong em, sự tự hào từ trong con tim người dân đất Việt đã dâng tràn lên khóe mắt, đất nước ta vừa tinh tế, giản dị mà lại vừa độc đáo, rực rỡ khôn cùng! Điều đó chứng tỏ đất nước cả trong quá khứ lẫn hiện tại, chưa bao giờ chạy sau các cường quốc khác cả về trí tuệ và sức sáng tạo tuyệt vời!
Tạm biệt Khuê Văn Các, tạm biệt giếng nước thân thương, tạm biệt bia đá đặt trên mai kim quy tôn kính và tạm biệt quần thể Văn Miếu đồ sộ. Chúng em đến với khu đầu tiên của quần thể di tích Quốc Tử Giám, Đại Thành môn, khu điện thờ. Theo bước chân anh hướng dẫn viên chúng em bước qua cổng Đại Thành để tiến vào sâu hơn bên trung khu điện thờ. Ngay khi bước qua cánh cửa, em đã thấy một khoảng sân rộng mênh mang được lát gạch Bát Tràng cổ truyền của dân tộc. Ngay trước mặt là Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu đình hình vuông. Tứ phối được thờ trong Thượng Điện từ ngày mới xây dựng Văn Miếu, tượng của cả bốn vị đều là tượng gỗ sơn thiếp uy nghi. Hai gian đầu hồi cũng có hai khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập triết. Cả hai công trình kiến trúc đều đồ sộ và mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, kẻ bảy giản đơn không cầu kỳ mà lại vô cùng tinh xảo, chồng đấu kiểu đấu đỡ chống cột rất Việt Nam, khác hẳn với phong cách kiến trúc của các nước láng giềng thời ấy, giản dị mà độc đáo, khiêm tốn mà táo bạo.
Men theo hai con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu là đến đền Hòa Khánh, Quốc Tử Giám ngày trước. Tuy Quốc Tử Giám hiện nay là một công trình hoàn toàn mới, không gió táp mưa sa, cỏ lấp rêu phong nhưng em vẫn thấy thoảng đâu đây không khí cổ xưa, nó vẫn đậm đà và chân thật. Nơi đây thờ Khổng Tử cùng cha mẹ của ông tức Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Tiến vào điện thờ, mùi hương đầu tiên xộc và mũi em ấy là hương khói, dìu dịu, ngọt ngào, trong làn hương mịt mù ấy em nghe được lời cầu ước của mọi người. Cùng các bạn, em tiến lại bàn thờ, kính cẩn đặt tờ tiền lẻ vừa được vuốt cho phẳng lại lên bàn thờ, chúng em chắp tay thành khẩn cầu nguyện. Rời khỏi nơi đã rèn đúc nhiều nhân tài cho đất nước trong nhiều triều đại vời tinh thần sảng khoái đầy tự tin vào một tương lai tràn ngập ánh nắng, hoa và nụ cười phía trước, tiến đến khu cuối cùng của quần thể này, nhà Tiền Đường, Hậu Lê. Đến được đây đồng nghĩa với việc chuyến hành trình của chúng em đã gần đi đến hồi kết.
Vừa ra khỏi khu đền chúng em bắt gặp ông đồ trong bộ áo dài nhiễu đen bày mực tàu giấy đỏ. Tay ông đề những chữ như phượng múa rồng bay, ông nhìn tụi em cười hiền, khuôn mặt phúc hậu, hiền từ, ông hỏi :“Các cháu muốn ông tặng chữ gì nào?” Chúng em đứng đó, ngắm nhìn ông, một biểu tượng tuyệt đẹp của ngày tết, với lọ mực đen và bút lông trắng, cảm giác tết chẳng ở đâu xa mà đã đang ở ngay đây rồi. Lưu luyến chia tay ông đồ thân thiện, chúng em nhanh chóng theo bước anh hướng dẫn viên trở về cổng Văn Miếu môn.
Trong một khoảng thời gian ngắn để vui chơi, lưu lại kỉ niệm, chúng em cùng nhau chọn những món đồ lưu niệm, kể cho nhau nghe những việc đã xảy ra trong suốt chuyến đi rồi cùng cười đùa vui vẻ. Giây phút ấy, sao ấm áp lạ lùng… Chìm trong niềm vui hạnh phúc được ngâm mình trong lịch sử, em giật mình khi anh hướng dẫn viên thông báo đã đến lúc phải đi. Không nỡ rời khỏi nơi đây, em vẫn cố ngoái đầu nhìn lại để chào tạm biệt di tích lịch sử của dân tộc lần cuối. Ai cũng có vẻ buồn, sự hối tiếc và hụt hẫng khi chưa khai thác được hết những kiến thức của những bạn đôi lúc không may bỏ lỡ phần thuyết trình hay sự luyến lưu khi đã thật sự gắn bó với nơi này…
Trên chuyến hành trình trở về quê hương yêu dấu, trong tâm trí em vẫn còn lưu luyến kỷ niệm của hai ngày trải nghiệm và đặc biệt là khoảng thời gian ngắn ngủi ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Dựa đầu vào người bạn thân kế bên, trong mơ em thấy những nhân tài ngày xưa đang ngồi bàn luận, họ bàn làm thế nào để đất nước ta thêm giàu mạnh, phát triền. Sau một lúc trầm ngâm, cụ Chu Văn An liền kêu lên: “Trẻ em! Những viên kim cương thô chưa được mài dũa, khi đã được hoàn thiện nhất định sẽ khiến đất nước ta tỏa sáng lấp lánh không thua kém bất kì cường quốc nào. Phải! Ta phải nhờ đến trí thông minh và sự chăm chỉ của các em!” Cụ Chu Văn An quay lại nhìn em, mỉm cười: “Con sẽ giúp chúng ta truyền thông điệp này đến thế hệ các con chứ ?”. “Vâng!” Em kiêu hãnh trả lời, hãnh diện với nhiệm vụ mình được nhận. Rồi em nghe thầm thì trong giấc mơ: “Văn Miếu – Quốc Tử Giám, một kỉ niệm không thể quên!”